Hôm nay thứ bảy, ngày 4 tháng 7 năm 2020
NƯỚC VỀ (2) (21/11/2019 07:07 AM)
Lê Nghĩa

Phần 2.
Vừa thấy hắn bỏ nạng ngồi xuống ghế, Bà Tám lừ mắt không nói gì rồi tiếp tục công việc.



Hất giọng côn đồ hắn gọi:
- Cho tô cháo chủ quán!
 
Biết là gặp phải cô hồn nhưng sáng sớm nên bà im lặng. Bưng tô cháo ra cho hắn bà Tám miễn cưỡng:
- Hôm nay sao ăn sớm vậy?
 
Không thèm nhìn mặt bà vui hay buồn hắn cộc lốc:
- cho xị rượu!
 
Quay vào lấy cho xong cái của nợ rồi trở ra bà thẳng thắn:
- Hôm nay phải trả hết cho tao đó nghen, đây rượu đây!
 
Hắn rót rượu uống cái ực rồi dằn cái ly xuống bàn làm rượu văng tung tóe:
- Đang ăn đừng có mà lãi nhãi!
 
Thấy hắn ăn nói xấc xược tức cành hông nhưng bà Tám vẫn im lặng quay vào trong rồi với theo:
- Làm gì thì làm nhưng hôm nay phải trả hết cho tao!
 
Ly rượu hắn dằn xuống vô tình văng trúng mấy người khách bàn bên cạnh, vị khách bị rượu văng vào mặt đứng dậy xẵng giọng:
- Anh kia, làm gì hất rượu vào mặt tôi?
 
Đang húp xì xụp hắn ngẩng lên không vừa:
- Tôi hất hồi nào, nó chỉ văng thôi mà!
 
Nhìn sang thấy bàn bên có bốn người lực lưỡng, tóc tai bù xù cáu bẩn, hắn biết chắc là mấy gã đi tìm trầm mới về ngang qua ăn sáng, dịu giọng hắn nói:
- Chỉ vô tình văng trúng thôi, cho tôi xin lỗi!
 
Người đàn ông không nói gì chỉ hừ một tiếng rồi ngồi xuống, hắn thừa hiểu những người đi tìm trầm đều là những người có máu mặt, lì lợm nên hắn không dại gì dây vào cho khổ thân, chứ bình thường như người khác thì hắn đã sừng xộ lại rồi, làm gì có chuyện hắn nói lời xin lỗi thế kia.
Ăn vội vàng cho xong bữa hắn ngước vào trong giọng không còn đanh như trước nữa:
- tính tiền cho tôi chủ quán!
 
Bà Tám mừng rúm cầm sổ tính những lần trước, thầm cảm ơn trời phật hôm nay cái thằng ba trợn lại tử tế như vậy. Móc vội mấy tờ bạc lẻ gần như nhàu nát đưa hết cho bà Tám hắn nghiêng ngã:
- Cầm nhiêu đó đi, còn lại bữa khác đưa!
 
Chưa dứt câu hắn đã ra đến cửa còn ngoáy lai:
- Nhớ ghi lại cho đúng đó!
 
Tưởng là hôm nay gặp may hắn trả hết ai dè... Bà Tám lẩm bẩm:
- Vậy cũng được một nữa, có còn hơn không.
 
Quay sang bàn có bốn vị khách tìm trầm kia tính tiền bà không quên cảm ơn họ:
- Hôm nay mà không có các chú chắc hắn lại ghi sổ nữa rồi, nói gì thì nói tôi cũng phải cảm ơn các chú.
 
Mấy người đi tìm trầm chỉ cười khoái chí chứ không nói gì, họ ngồi tán chuyện một lát rồi cũng rời quán đi về hướng thị xã.
Đúng như bà Tám nói, nếu như hôm Nay không có mấy gã đó thì Ba tình chắc gì đã sòng phẳng cho bà, vì sĩ diện với mấy gã kia mà hắn đã móc hết tiền đưa cho bà, tuy không ra mặt nhưng trong lòng hắn rất hậm hực, chỉ muốn quay lại phang cái nạng gỗ vào mặt cái gã đã nói hắn hất rượu vào mặt. đúng là hắn cố tình nói quá cho mình!
 
Ngồi cố bán cho hết số lêkima còn sót lại, bà Sáu cùng Tư Trinh ra về, dọc đường Tư Trinh như chợt nhớ ra điều gì cô quay qua mẹ:
- Hôm nay con thấy chợ mình đông người lắm mẹ, Chắc là người về làm công trình hay sao ấy, chợ làng mình rồi đây sẽ tập nập cho xem.
Bà Sáu dừng lại lột nón quạt cho mát rồi cười vui:
- Chắc mai mốt mẹ làm bánh đi bán lại thôi, bây giờ người đông rồi không phải lo ế nữa.
 
Tư Trinh nghe mẹ nói vậy thì vừa vui vừa lo. Cô vui vì có đi bán thì gia đình đỡ vất vã chật vật trong cuộc sống, còn lo là mẹ cô đã lớn tuổi mà cô lại đi học xa nhà không thể phụ bà sớm hôm được, cô nhìn mẹ tính nói gì nhưng lại thôi.
 
Hai mẹ con bà Sáu về đến nhà ông sáu đã ra khỏi nhà từ lúc nào.Thằng Hoàng đang chuẩn bị dắt trâu đi ăn, thấy mẹ và chị về nó vồn vã:
- có mua gì cho con không mẹ? Con chờ từ sáng giờ.
- Cha cái thằng này, giờ mà còn chưa đi nữa.
 
Bà Sáu mắng yêu con nhưng vẫn không quên đưa nó cái bánh Ú rồi dặn:
- Vừa đi vừa ăn nha, mà cha bây đâu rồi?
 
Thằng Hoàng cười tươi vừa lột bánh vừa nói:
- Hồi sáng cha nói ra thăm ruộng đậu rồi.
 
Nói rồi nó dắt con trâu đi ra cổng, còn lại hai mẹ con, bà Sáu tranh thủ hỏi con đủ thứ rồi dặn con cố gắng ăn uống điều độ thì mới có sức mà học, Tư Trinh chỉ ngồi nghe rồi ngoan ngoãn gật đầu.
Đang ngồi nói chuyện cùng con chợt có tiếng chó sủa ngoài ngõ, nhìn ra bà thấy Hường vợ Ba Cẩn đang đi vào cắp theo cái rổ, vừa nhìn thấy bá Sáu Hường nhanh nhảu:
- Con sang biếu bác Sáu ít cá, sáng nay chồng con đánh được nhiều chừa lại một ít để ăn.
- Sao bây không để bán? đang khó khăn mà! bác và con Tư cũng mới ở chợ về.
 
Thấy Tư Trinh đi ra, Hường vui vẻ:
- Dạ không có gì đâu bác, dạo này trên đồng mình khan hiếm lắm, với lại có Tư Trinh về con nhân tiện qua chơi.
Bà Sáu cảm ơn rồi đem mấy quả lêkima đã chín đưa cho vợ Ba Cẩn:
- Đem về cho thằng chồng bây, nó thích ăn cái này lắm.
Hường nhận mấy trái lêkima bà Sáu đưa cho vào rỗ, ngồi chơi nói chuyện với Tư Trinh một lát cô xin phép ra về.
 
* * *
Uống hết ly nước trà xanh còn dang dở, Ông sáu đứng dậy đi vô buồng đánh thức thằng Hoàng dậy đi trâu., không quên dặn nó là ông ra thăm ruộng đậu. Cầm chiếc nón bước vội ra mé sau hè lấy cây cuốc rồi đi ra cổng, ngước nhìn bầu trời trong xanh ông thấy lòng thật khoan khoái dể chịu. Mấy ngày nay ông chưa ra thăm đám đậu ở mé sông, chắc là đã cao thêm được chút rồi, những tháng mùa khô này cả làng ông chỉ trông chờ vào đám đậu và cái ruộng khoai thôi. Men theo lối mòn ông đi tắt ra con đường lớn rồi băng qua cánh đồng mía bạt ngàn xanh mơn mởn, chúng đang cho ra đốt và vươn lên trong cái nắng nóng của mùa khô, thời gian nữa thôi lại cho thu hoạch rồi. Đi hơn cây số nũa là ra đến bờ sông, mồ hôi đã lấm tấm trên lưng, đi vội lại đám đậu nhà nhìn chúng đã cao lên rất nhiều. Bỏ cây cuốc xuống đất, ông lột nón ngồi xuống bên bờ ruộng nghỉ mệt.
 
Được một lát thấy người dể chịu hơn, men theo dọc bờ ông xới những đám cỏ đang cố tình bò ra, rồi len hẳn vào trong ông nhổ những cây cỏ còn xót lại, giờ đậu chưa cao dể phát hiện, để chúng tốt lên che khuất là không còn cách nào nữa. Loay hoay hơn canh giờ đám ruộng đã sạch sẽ, hai bên bờ thoáng đãng, mở một lỗ nhỏ cho nước tràn vào rồi đứng chờ, một số người vừa đến cũng đã bắt tay vào công việc. Chờ cho nước chảy vô đủ thấm đất ông đắp lại chắc chắn. Chưa vội quay về ông vác cuốc lên vai đi thẳng ra bờ sông nơi có cái guồng nước đang làm việc quanh năm, đứng nhìn dòng nước mát được lấy lên từ dòng sông mà ông không khỏi bồi hồi.Nếu không có cái guồng đó thì cái làng ông sẽ ra sao? Nó có từ thời ông còn bé đến giờ.Lợi dụng dòng chảy người ta đã làm cái guồng to như cái nhà ba gian thật chắc chắn, gia cố cẩn thận rồi thả xuống dòng sông, dòng nước êm đềm chảy làm xoay tròn chiếc guồng, nước được kéo lên đổ vào cánh đồng bát ngát đó. Người dân chỉ việc khơi thêm dòng chảy cho nó lan tỏa khắp nơi, lượng nước ít ỏi nhưng cũng đủ làm xanh ngát một vùng. Những lúc hạn hán dòng sông nước cạn cái guồng phải đứng chơ vơ chờ đợi. Tuy vậy dân làng ông cũng không chịu bó tay, cùng chung sức lại đào những rạch nước lớn để chứa, không trồng được đậu và hoa màu khác thì có thể vun luống khoai,nước vẫn còn đủ tưới. Được như vậy nên chưa năm nào phải mất vụ hoa màu vào mùa khô. Mãi đứng nhìn và nghĩ ngợi ông không để ý đến một người đang từ từ tiến lại phía sau lưng:
- Ông Sáu sao hôm nay rãnh rỗi đứng ngắm trời mây vầy nè?
 
Giật mình nhận ra giọng quen quen ông quay lại:
- chào anh Ba! Dạo này khỏe chứ? Lâu lắm không gặp anh à nghen.
- Dạo này tôi lu bu quá anh sáu, không có thời gian để về làng, đám đậu này tôi cũng có làm được đâu, bà nhà và mấy đứa nhỏ làm đó chứ.
 
Ông Sáu đùa vui:
- Chứ không phải lo làm giàu rồi quên tui luôn sao?
- Nói thiệt anh Sáu chứ mãi lo đám ruộng xong rồi lại quay ra với mấy dãy tràm con, mình mà không canh chừng đám trâu bò nó đạp gãy hết. Mấy cái thứ đó nhìn vậy thôi chứ mất công lắm anh!
- tôi cũng có nghe thằng Hoàng về nói lại, anh Ba giỏi thiệt đó, ở đâu họ cũng nói về anh, để hôm nào tôi ghé chơi xem cái công trình của anh nó như thế nào. Mà hôm nào rảnh về làng vô tui làm vài ly chứ anh Ba, bộ tính đi luôn hả?
 
Ông Ba Đồi cười thật tươi, chuyện trò một lát rồi ông quay lai đám ruộng làm cho sớm không nắng lên. Còn lại một mình nơi cái guồng nước Ông Sáu quay bước nhẩm bụng:
- Thôi mình về sớm, mai con Tư Trinh nó phải ra tỉnh rồi!
 
Ông Ba Đồi là người cùng làng với ông Sáu, sống với nhau từ nhỏ lại gần nhà nhau, ông không phải tên Đồi mà là tên ông Ba Thực.cái tên nó giống như là con người ông vậy, ông hiền lành chịu khó, có tình có nghĩa được lòng bà con lối xóm. Nhà đông con cuộc sống lại khó khăn, rồi người con gái đầu đi lấy chồng ở huyện xa, cuộc sống cũng không hơn mấy nên ít về thăm gia đình. Thời gian sau người con thứ ba là Ba Cẩn cũng lập gia đình cùng ở chung với ông bà và các em. Cuộc sống trong làng cơ cực, nhà đông người mà chỉ trông vào ít sào lúa nhưng hạn hán đất đai cằn cỗi không đủ ăn, ông bà cũng lặn lội sớm hôm nhưng cái khổ cũng không thoát đi được. Cuối cùng Ông quyết định rời làng đi vào trong mé đồi dựng một gian nhà lá làm chổ che nắng che mưa, nhà trong làng ông để lại cho vợ chồng ba Cẩn trông coi. Ông cùng vợ và các con khai hoang, cuộc sống ban đầu rất là vất vã dần dần cũng đâu vào đó...
 
Ông bắt đầu trồng tràm và bạch đàn dọc theo chân đồi, nhờ đất mới chúng lớn rất nhanh và cho thu hoạch, vì ông ở gần ngay quả đồi nên mọi người mới gọi ông là ông Ba Đồi, lúc đầu nghe lạ sau gọi riết rồi quen.
 
Cũng như mọi người ở trong làng ông cũng làm mía, trồng đậu và lang dọc theo bờ sông, thằng Hưng con ông học cùng lớp với thằng Hoàng con ông Sáu, hai đứa nó chơi với nhau rất thân như ông và ông sáu hồi nhỏ vậy, còn Tư lành thì không may mắn phải nghỉ học sớm ở nhà phụ với cha mẹ. Nói về ông ai cũng phải khen, nhất là chuyện ông đã thay đổi được đám ruộng lúa ở mé đồi.
 
Chuyện là lúc gia đình ông dọn vô trong mé đồi, bước ban đầu phải khai hoang tìm đất, vật lộn với thiên nhiên. Nhà ông ở cách một con suối nhỏ chảy xuống chừng vài ba trăm mét. Khu vực đó ẩm thấp rậm rạp cây cối mọc um tùm, được cái nó bằng phẳng thuận lợi cho việc trồng lúa. Gia đình ông đã dọn dẹp trong một thời gian dài được hơn năm sào đất ruộng, nhờ có dòng suối nên đất lúc nào cũng ẩm ướt, bước ban đầu trồng cũng cho thu hoạch, nhưng càng về sau càng thất bát, ông cũng cố gắng ra sức chăm bón nhưng không có kết quả. Nhìn những thân lúa teo tóp chỉ cao bằng gang tay lơ chơ trong nắng mà ông ngỗn ngang lo lắng, đến lúc đậu hạt thì chỉ toàn hạt lép, cả bao lúa mà khi lấy hạt chỉ được một phần ba còn lại chỉ đem cho gà và vịt.
 
Sau nhiều đêm trăn trở và suy nghĩ biết là đám ruộng nhà mình bị nhiễm phèn , ông đã cải thiện đất nhiều lần nhưng lần nào cũng không cho thu hoạch. Ông lần tìm lên chỗ dòng suối, đứng nhìn dòng nước chảy ra từ những chân đá trong vắt, mát rượi đổ xuống một vũng nước nhỏ bên dưới, đứng từ trên cao nhìn xuống có thể thấy những con cá nhỏ lội tung tăng, vậy thì làm sao ruộng lại bị nhiễm phèn chứ?
 
Đi vòng lại chỗ nước cạn ông quan sát, những bụi cây mọc ven bờ đều khẳng khiu vành lá, lấp xấp trên mặt nước nông là những cây cỏ cứng ngắc khẳng khiu, ông đứng hồi lâu quan sát và nghĩ ngợi rồi lội xuống chỗ nước đọng, bên dưới chỉ toàn cát, những hạt cát to như hạt đậu lạo xạo dưới chân. Mặt trên được phủ một lớp bùn vành óng đang bám chặt vào những thân cỏ. Ông đưa tay vốc lên rồi miết ngón tay, chúng cứ rít kịt vào với nhau, ông chắc chắn dòng nước đỗ vào ruộng đã bị nhiễm bẩn bắt đầu từ đây, nỗi lo nhen nhúm trong lòng ông, trở về nhà ông buồn rười rượi, cuộc sống chỉ trông vào mấy sào lúa là chính mà dòng nước như vậy thì còn trông chờ vào đâu nữa, cây tràm và bạch đàn cũng phải có thời gian mới thu được chứ! Cuộc sống như đang đi vào bế tắc, ông chưa biết phải suy nghĩ ra sao thì lại xãy ra một chuyện oái oăm.
 
Vì đám ruộng cách xa nhà nên cái chuồng trâu ông cất luôn gần mé ruộng. Hàng ngày Thằng Hưng vẫn đi dắt trâu và chiều về cột ở đó, vì để chuồng trâu ở dó tiện cho việc lấy phân vào ruộng, với lại ông dự định sau này có điều kiện sẽ nuôi thêm con bò tăng gia.
 
Một buổi sớm thằng Hưng hớt hãi chạy về mặt tái mét, miệng ấp a ấp úng:
- có... có.. gấu ngoài chuồng trâu mẹ ơi?
 
Nhìn hai chân nó rướm máu mà ông phát hoảng, chờ cho nó bình tĩnh ông hỏi gặng, nó nói là vừa ra đến chuồng thì thấy con trâu đực đang lồng lên, thấy lạ nó lại gần thì gặp con gì đen thui đang đứng hai chân vịn vào cổng, hốt hoảng nó quay đầu bỏ chạy, vì quá sợ nó không kịp nhìn xuống đường, bàn chân trần đạp phải đá sắc nhọn bên đường túa máu.
 
Cầm cái cuốc ông chạy ra chỗ chuồng trâu, tìm loanh quanh một hồi không thấy gì, con trâu vẫn hục hặc trong chuồng, ông nghĩ chắc là có gấu về thật mà là gấu nhỏ. Tuy là đồi chứ vẫn âm u, mà cũng có thể nó bơi từ sông qua, vì ở phía bên kia mới là rừng rậm.
 
Mãi một thời gian mọi chuyện mới đi vào yên lặng, thằng Hưng thì vẫn chưa hết sợ, còn con trâu đưc có lẽ cũng từ đó mà trở nên hung hăng khác lạ.
Nhìn thấy ông cứ lo lắng suy nghĩ, sợ ảnh hưởng đến sức khỏe, bà Ba khuyên ông hôm nào rảnh về làng hỏi thêm mọi người xem sao, biết đâu có người rành họ chỉ cho cách khắc phục đám ruộng. Ông Ba cũng gật đầu cho qua chuyện chứ ông thừa biết bà còn lo hơn ông nữa...
 
Ông không bỏ cuộc, đã nhiều đêm trằn trọc không ngủ cố tìm ra giải pháp, trong cái khó ló cái khôn và ông đã tìm ra giải pháp trước mắt. Bắt tay vào công việc liền, ông cùng bà và các con đắp bờ cao không cho dòng nước suối chảy vào ruộng, khơi thêm dòng chảy bên hông ruộng cho dòng nước thoát nhanh ra con suối đổ về phía bờ sông, như vậy ông chỉ còn chờ vào lượng nước mưa, thôi thì cũng có cái để làm ăn, đám ruộng được cải thiện lúa xanh tốt như thường nhưng chỉ cho thu hoạch có một vụ còn lại là bỏ hoang cho cỏ mọc chờ mưa xuống...
 
Một ngày nọ ông lại ra nơi dòng nước đang đổ xuống đứng nhìn, rồi như nghĩ ra cái gì, ông trở về làng chặt những cây tre già và to đem về chẻ làm đôi róc ruột thật sạch trơn tru như cái máng xối rồi đem ra con suối. Ông chặt những cây to trên đồi có nhánh chìa ra rồi làm trụ chống bắc qua con suối nhỏ, đặt những thân tre đã róc ruột lên trên cột lại chắc chắn, ông bắc nhịp thấp dần đến mô đất bên kia bờ, mô đất chạy dài khoảng năm mươi thước cách biệt lập với dòng suối đổ xuống một tảng đá lớn chắn ngang, bên trong toàn là cỏ và cây dại rậm rạp mà ông cũng chưa lần đặt chân. Sau đó ông lấy hai thân tre làm đầu nối dòng nước suối đang chảy từ trên cao, nước được chuyền từ trên cao cứ chảy mãi rồi thấm dần đến tảng đá lớn bị chắn lại và dâng lên từ từ ở đó. Với suy nghĩ là sẽ có kết quả nên ông cứ chờ vì không có cách nào lay chuyển được tảng đá.
 
Ngày qua ngày dòng nước thấm đủ đất rồi dâng lên trườn qua hông tảng đá, len lỏi qua các gốc cây thấm qua lớp lá mục rồi thoát ra ngoài. Sau nhiều ngày đi thăm và quan sát chắc mẫm là dòng nước sẽ bất tận, ông cùng vợ và các con hàng ngày đào rãnh và đắp bờ cho dòng nước đổ vào, hì hục đến hơn tháng trời cả nhà ông đã hoàn thành được cái công trình mà không thể ngờ là có được. Để chắc chắn ông chặt lá cây bỏ vào cái rãnh nước, dòng nước mỗi lúc một trong và cứ thế chảy vào ruộng lúa. Vậy là gia đình ông lại tha hồ cày cấy. Việc làm của ông vang khắp làng, ai cũng khen ông giỏi, có sáng tạo. Giờ đây mỗi lần nhìn đám ruộng là ông vui lắm, gia đình ông không còn lo lắng cái thiếu ăn, vụ mía và đậu vừa rồi ông đã mua thêm được hai con bê nhỏ, thằng Hưng có nhiệm vụ chăm sóc chúng, và giờ chúng đã lớn và sắp đẻ rồi.
 
Chiều hôm đó gia đình ông Sáu quây quần bên mâm cơm sớm hơn mọi khi, bà Sáu đề cập đến chuyện đổ bánh đi bán lại. Bà cũng đưa lý do là khách ở xa về nhiều chắc là bán được, cũng có thể bà sẽ gánh vào tận nơi họ đang ở để bán. Ông Sáu nghe cũng có lý nhưng vẫn khômg yên tâm vì lo lắng cho sức khỏe của bà. Vì vậy ông bảo mọi chuyện cứ gác lại sau đã rồi tính. Gia đình vui vẻ trò chuyện thật lâu, rất hiếm khi gia đình mới được đông đủ như vầy. Nhìn ra ngoài sân màn đêm đã bao trùm khắp ngõ, nói chuyện thêm một lát ông dặn vợ và con chuẩn bị đồ đạc rồi ngủ sớm mai còn đi ra trường. Ngọn đèn dầu được vặn nhỏ lại chỉ còn một đóm le lói.
 
* * *
Gà mới gáy canh tư bà Sáu đã trở mình thức đậy. Gọi con gái thức giấc để chuẩn bị đi, nghe lục đục ông sáu cũng không ngủ được nên dậy sớm kiểm tra xem còn cái gì con để quên không.
 
Tư Trinh đã chuẩn bị gọn gàng hết hồi đêm, ngồi với cha mẹ một lát cô vui vẻ chào cha mẹ rồi dắt chiếc xe đạp đàng sau có chiếc giỏ mà cha cô đã cột chắc chắn rời nhà mà lòng không khỏi bịn rịn. Chờ cho bóng cô khuất sau khúc ngoặt ông Sáu mới đi vô nhà, ngồi xuống bàn rót ly nước trà xanh mà bà Sáu vừa pha rồi nói:
- Lát nữa tôi và thằng Hoàng ra ruộng lang cắt một ít nhân tiện lấy thêm ít củ, nhà sắp hết rồi. Chắc giờ nó cũng được như cái cán liềm thôi, với lại tôi cũng muốn vô một vòng xem ở nơi cái công trình đó như thế nào.
 
Bà Sáu đang lui cui trong bếp sắp mớ trái cây vô rổ nghe ông nói như vậy thì lên tiếng:
- Vậy ông ở nhà chờ lát trời sáng thì gọi con nó dậy chuẩn bị. Tôi đi ù ra chợ bán mớ trái cây mới hái chiều qua, có nồi khoai lang mới luộc dỡ theo dọc đường hai cha con ăn đỡ đói! - nói xong bà tranh thủ đội nón cặp theo cái rổ đi ra cổng.
 
Ông Sáu vô trong kêu con dậy rửa mặt, hai cha con ăn mấy củ khoai đang còn nóng, được một lát ông biểu con cứ ngồi ăn còn ông ra móc trâu vào xe, chuẩn bị xong ông gọi thằng Hoàng khép cửa.
 
Hai cha con ông Sáu thong thả đánh trâu đi hết con đường vòng trong xóm rồi bọc ra con đường lớn, được một đoạn thì rẽ vào ruộng mía đi về phía bờ sông. Khi đi qua đám mía nhà ai đó bị nghiêng ra mé đường, con trâu đực chần chờ đi chậm lại rồi bợp lấy một ngọn, bị thằng Hoàng vụt cho một roi nó lại cắm đầu đi miết.phải mất gần nữa giờ mới ra đến bờ sông, đánh trâu kéo xe vào gần ruộng lang, bỏ xe thằng Hoàng dắt con trâu lại phía bờ suối có dòng nước chảy nhỏ đổ ra sông, chọn một nơi nhiều cỏ nó đóng cọc cột lại chắc chắn rồi quay lại nơi ông Sáu đang đứng.
 
Chỉ mấy ngày không ra mà ruộng lang đã tốt um, những dây lang mọc dài bò chen chúc nhau trên mặt cát. Lưa thưa vài người đi cắt đã đến sớm hơn cha con nhà ông Sáu, chào đôi câu xã giao hai cha con bắt tay vào công việc. Chỉ một lúc đã cắt được một đống to, nhắm vừa đủ cho heo và trâu ăn trong vài ngày ông dừng lại.
 
Chọn những vạt dây trồng trước có gốc phình to kéo lên khỏi mặt đất, những củ khoai đỏ mọng như trái sim rừng đang độ chín tới bung khỏi mặt đất từng chùm dính vào nhau. Chỉ một lát đã dồn được cả bao thì ngưng lại.
 
Ở vùng đất hay khô khan hạn hán này nếu là trồng khoai ở đất nhà thì rất là vất vã, phải đánh luống bỏ phân thật nhiều thì dây mới cho củ. Nơi ông ở chỉ toàn đất trắng, cứng như gạch nung, muốn trồng được phải một quá trình.
 
Như một món quà mà thượng đế ban tặng, dọc hai bên bờ sông là những cồn cát chạy dài và rộng bao la, mùa mưa nước dâng lên bồi phù sa cho đất, vào mùa khô người làng ông chỉ việc khơi nhẹ mặt cát dặm dây lang xuống là nó có thể tốt xanh um, ngoài ra dây nó còn cho củ rất ngon, thu hoạch cũng dể không tốn nhiều công sức, hầu như nhà ai cũng có một vạt ruộng lang ngoài bờ sông. Một món quà dành cho những con người vất vã nơi đây.
 
Khi những người đi cắt dây đã về hết, hai cha con ông Sáu chất dây và củ lên xe rồi rời bờ sông. Không trở lại con đường cũ ông Sáu cho xe trâu hướng về phía đồi lội ra con lộ mới vừa làm xong. Dọc đường ông chăm chú quan sát, xa xa xung quanh hai bên con đường những dãy nhà tập thể san sát mọc lên. Những chiếc xe cơ giới chạy qua chạy lại lên xuống những con dốc, ông thầm nghĩ:
- Họ về đây từ lúc nào mà đông như vậy? Chắc là đã bắt tay vào công việc rồi. Mà sao trẻ con ở đây cũng nhiều nữa, chúng cứ chạy ra chạy vào cái nhà kia chắc nơi đó là nhà trẻ quá!

 
Hết phần 2.
Lê Nghĩa. Bình Dương
17/11/2019
 
 Trở về
Các bài viết khác:
NƯỚC VỀ (Phần 5) (17/12 10:27:52 AM)
SÁNG NAY SÀI GÒN (09/12 02:53:01 AM)
NƯỚC VỀ (4) (08/12 14:50:36 PM)
NƯỚC VỀ (3) (03/12 04:12:15 AM)
NƯỚC VỀ (1) (14/11 03:14:03 AM)
CHIẾC KHĂN (12/11 01:08:14 AM)
THƯ XA (13/10 11:00:42 AM)
MÁU CHẢY RỜI TIM (11/10 04:57:14 AM)
HẠ BUỒN (10/10 02:12:36 AM)

TIN MỚI

TIỆN ÍCH
Giờ tại Sydney

TỶ GIÁ
Nguồn: vnexpress.net
Quảng cáo Quảng cáo

Dành cho quảng cáo